Khoa Nhi

Bấm để in

A.Lịch sử:
Khoa nhi được thành lập cùng lúc hình thành bệnh viện Quy Nhơn. Sau tiếp quản 1975, khoa tiếp tục hoạt động để phục vụ bệnh nhân. Lúc bấy giờ, khoa do một số bác sỹ liên khoa Nội – Nhi – Lây và Phòng khám tham gia quản lý và điều trị. Khoa thực sự đi vào hoạt động chuyên nhi khi Bác sỹ Nguyễn Thị Báu lên làm trưởng khoa. Ngày càng phát triển hơn, khoa đã được chia ra làm bốn phòng ban: Nhi A ( Nhi Cấp cứu); Nhi B ( Tiết niêu, bệnh về máu); Nhi C ( Hô hấp, Thần kinh); Nhi D ( Tiêu hóa, tạp bệnh) do Bác sỹ Trương thị Ngọc Lan làm trưởng khoa. Giai đoạn phát triển đồng bộ từ 60 giường lên 80 điều trị, nhiều bác sỹ trong khoa đi học chuyên khoa cấp 1 cũng như các chuyên khoa sâu, cập nhật nhiều kiến thức cũng như thực hành thành thạo nhiều kỹ thuật mới khi Bác sỹ Hồ Việt Mỹ làm trưởng khoa, giai đoạn này khoa nhi phát triển thêm phòng hồi sưc cấp cứu nhi Sơ Sinh nằm trong Nhi A. Đây cũng là bước đầu để hình thành đơn nguyên sơ sinh sau này khi Bác sỹ Trần thị Ngọc Diệp lên làm lãnh đạo khoa, Đến 10/ 2008 đơn nguyên Sơ Sinh tách hẳn ra khỏi khoa nhi và thành lập khoa Nhi Sơ Sinh. Từ đó đến nay, khoa nhi điều trị cho các trẻ từ 01 tháng đến 15 tuổi với số giường điều trị lên 100 giường.
 

Ban lãnh đạo hiện nay:
 

 

BSCKII Phạm Văn Dũng
Trưởng khoa

BS.CKII Nguyễn Thị Hồng Đào
Phó trưởng khoa


TẬP THỂ KHOA NHI

B. Nhân sự;  Tổng số: 56 nhân viên; Trong đó:
-  Bác sỹ chuyên khoa cấp 2: 02
-  Bác sỹ chuyên khoa cấp 1: 06
-  Thạc sỹ: 02
-   Bác sỹ: 02
-   Điều dưỡng đại học: 06
-   Điều dưỡng cao đẳng: 01
-   Điều dưỡng trung học: 31
-   Hộ lý: 06 
C. Chức năng nhiệm vụ chung
1. Khám bệnh và điều trị:
Phục vụ khám, chữa bệnh cho tất cả trẻ em từ 01 tháng đến 15 tuổi.
2. Đào tạo cán bộ:
Phối hợp với trường Đại học Y Dược Huế tham gia giảng dạy thực hành cho BSCKI, BSCKII Nhi. Phối hợp cùng trường Cao đẳng Y tế Bình Định tham gia giảng dạy lý thuyết và thực hành cho sinh viên của trường.
3. Nghiên cứu khoa học:
Khoa đã tiến hành nhiều đề tài khoa học từ cấp bệnh viện, ngành cũng như tham gia đề tài cấp Bộ và Nhà nước quản lý. Hàng năm trung bình có từ 02 đén 04 đề tài được hoàn thành.
+ Tham gia đề tài cấp Nhà nước:
Đề tài; ” Nghiên cứu thực trạng sức khỏe và mô hình bệnh tật trẻ em Việt Nam” năm 1997- 2000.
+ Tham gia đề tài cấp Bộ:
- Đề tài: “ Nghiên cứu thức ăn địa phương bằng sữa đậu nành trong điều trị suy dinh dưỡng tại bệnh viện và phục hồi dinh dưỡng tại cộng đồng” năm 1985- 1986.
- Đề tài: “ Bệnh thấp tim trẻ em Việt Nam” năm 1988- 1989.
+ Một số đề tài tiêu biểu:
- Đề tài cấp ngành: “ Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị viêm phổi trẻ em từ 2 tháng đến 4 tuổi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định” thực hiện năm 1995- 1996 được Tổng liên đoàn lao động Việt Nam tặng bằng khen.
- Đề tài cấp ngành: “ Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, điện não đồ và các yếu tố nguy cơ co giật do sốt ở trẻ em”.  
4. Chỉ đạo tuyến chăm sóc sức khoẻ ban đầu:
Cử các Bác sĩ, Điều dưỡng đi xuống các bệnh viện huyện và các trạm y tế xã, các nhà trẻ mẫu giáo để hướng dẫn giảng dạy chỉ đạo công tác phòng bệnh, điều trị, giáo dục sức khoẻ. Giúp các cán bộ y tế cơ sở nâng cao kiến thức và tạo điều kiện cho họ hoàn thành tốt công tác chăm sóc sức khỏe ở các địa phương.
5. Hợp tác quốc tế:
Tập trung vào các lĩnh vực học tập, đào tạo và nghiên cứu khoa học.
6. Những thành tựu kỹ thuật mới:
Đến nay cùng với việc đầu tư khoa học kỹ thuật cao của bệnh viện, khoa đã được trang bị một số máy móc hiện đại vì vậy chất lượng chẩn đoán và điều trị được nâng cao rõ rệt, nhiều bệnh nhân nặng đã được cứu sống. Các bác sỹ trong khoa đều thực hiện thành thạo các kỹ năng cấp cứu như đặt nội khí quản, thở máy, sử dụng monitoring …Gần đây đã áp dụng đo huyết áp động mạch xâm lấn để theo dõi các bệnh nhân shock mang lại nhiều hiệu quả.
7. Khen thưởng:
- Bộ trưởng Bộ Y tế tặng bằng khen năm 1999.
- Chủ tịch UBND Tỉnh tặng tặng bằng khen năm 2004, 2005, 2007; danh hiệu “tập thể lao động xuất sắc” năm 2008, 2010.
- Sở Y tế tặng giấy khen năm 2006, 2007, 2008, 2009.